IndexPortalliGalleryCalendarTrợ giúpTìm kiếmĐăng kýThành viênNhómĐăng Nhập

Share | 
 

 Biến đổi khí hậu

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
bancua2lua
Thành viên Mới
Thành viên Mới


Tổng số bài gửi : 31
Registration date : 21/04/2010

Bài gửiTiêu đề: Biến đổi khí hậu   Wed Apr 21, 2010 12:52 pm

Dân trí) - Cuối thế kỷ 21, nhiệt độ tại Việt Nam có thể tăng từ 2 - 3 độ C so với trung bình thời kỳ 1980 - 1999. Một điểm đáng chú là khi đó nước biển dâng có thể gây ngập 10 - 23% diện tích TPHCM và 19 - 38% diện tích ĐBSCL.
Đây là nội dung chính trong Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng của Việt Nam được công bố với quốc tế chiều 9/9.

Bộ Tài nguyên - Môi trường tuyên bố, đây là kịch bản hài hòa nhất được khuyến nghị để các bộ, ngành và địa phương làm cơ sở đánh giá tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) và xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH.

Cụ thể, vào cuối thế kỷ 21, so với thời kỳ 1980 - 1999, nhiệt độ trung bình năm ở Bắc Trung Bộ có thể tăng cao nhất là 2,8 độ C, tiếp đến là Tây bắc 2,6 độ C, Đông Bắc 2,5 độ C, đồng bằng Bắc Bộ 2,4 độ C, Nam Bộ 2 độ C, Nam Trung Bộ 1,9 độ C, Tây Nguyên 1,6 độ C.

Tổng lượng mưa năm và lượng mưa mùa mưa ở tất cả các vùng khí hậu ở nước ta đều tăng. Tính chung cả nước, lượng mưa năm vào cuối thế kỷ 21 tăng khoảng 5% so với thời kỳ 1980 - 1999.

Vào giữa thế kỷ 21 mực nước biển có thể dâng thêm khoảng 30cm và đến cuối thế kỷ 21 mực nước biển dâng thêm khoảng 75cm. Với mức nước biển dâng này, TPHCM sẽ có 10% diện tích bị ngập, còn ĐBSCL thì có đến 19%. Còn nếu theo kịch bản cao nhất, nước biển dâng 100cm thì 23% diện tích TPHCM và gần 38% diện tích ĐBSCL sẽ ngập trong nước.


GS Trần Thục báo cáo về kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam.

Theo PGS - TS. Trần Thục, Viện trưởng Viện khoa học Khí tượng thủy văn và Môi trường, dung sai cho kịch bản trên là 0,4 - 0,6 độ C đối với nhiệt độ, 1 - 2% đối với lượng mưa năm, 5% đối với lượng mưa tháng.

Mặt khác, các kịch bản BĐKH phải thường xuyên được cập nhật về số liệu, kiến thức, mô hình và phương pháp tính. Cuối năm 2010 hoàn thành việc cập nhật các kịch bản BĐKH ở Việt Nam, đặc biệt là nước biển dâng cho từng giai đoạn từ 2010 đến 2100. Đến năm 2015 lại tiếp tục cập nhật.

Bộ trưởng TN-MT Phạm Khôi Nguyên cho biết, trong Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, việc xây dựng và cập nhật kịch bản BĐKH là một trong những nội dung quan trọng và cấp bách nhất.

Theo ngài Đại sứ Đan Mạch Peter Lysholt Hansen, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nhiều nhất của BĐKH. Nạn nhân chủ yếu của BĐKH chính là những người nghèo.

Vì thế Việt Nam cần trình bày kịch bản này tại Hội nghị các bên tham gia Hiệp ước về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc lần thứ 15 (UNFCCC) tổ chức tại Copenhagen vào tháng 12 tới để cho cộng đồng quốc tế có những kế hoạch giúp đỡ Việt Nam đối phó với BĐKH.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
bancua2lua
Thành viên Mới
Thành viên Mới


Tổng số bài gửi : 31
Registration date : 21/04/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Biến đổi khí hậu   Wed Apr 21, 2010 12:55 pm

Nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu (BĐKH) hiện nay, tiêu biểu là sự nóng lên toàn cầu đã được khẳng định là chủ yếu do hoạt động của con người.


Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người đã sử dụng ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nguyên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của trái đất.
Những số liệu về hàm lượng khí CO2 trong khí quyển được xác định từ các lõi băng được khoan ở Greenland và Nam cực cho thấy, trong suốt chu kỳ băng hà và tan băng (khoảng 18.000 năm trước), hàm lượng khí CO2 trong khí quyển chỉ khoảng 180 -200ppm (phần triệu), nghĩa là chỉ bằng khoảng 70% so với thời kỳ tiền công nghiệp (280ppm). Từ khoảng năm 1.800, hàm lượng khí CO2 bắt đầu tăng lên, vượt con số 300ppm và đạt 379ppm vào năm 2005, nghĩa là tăng khoảng 31% so với thời kỳ tiền công nghiệp, vượt xa mức khí CO2 tự nhiên trong khoảng 650 nghìn năm qua.

Hàm lượng các khí nhà kính khác như khí mêtan (CH4), ôxit nitơ (N2O) cũng tăng lần lượt từ 715ppb (phần tỷ) và 270ppb trong thời kỳ tiền công nghiệp lên 1774ppb (151%) và 319ppb (17%) vào năm 2005. Riêng các chất khí chlorofluoro carbon (CFCs) vừa là khí nhà kính với tiềm năng làm nóng lên toàn cầu lớn gấp nhiều lần khí CO2, vừa là chất phá hủy tầng ôzôn bình lưu, chỉ mới có trong khí quyển do con người sản xuất ra kể từ khi công nghiệp làm lạnh, hóa mỹ phẩm phát triển.
Đánh giá khoa học của Ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC) cho thấy, việc tiêu thụ năng lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng… đóng góp khoảng một nửa (46%) vào sự nóng lên toàn cầu, phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9% các ngành sản xuất hóa chất (CFC, HCFC) khoảng 24%, còn lại (3%) là từ các hoạt động khác.
Từ năm 1840 đến 2004, tổng lượng phát thải khí CO2 của các nước giàu chiếm tới 70% tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu, trong đó ở Hoa Kỳ và Anh trung bình mỗi người dân phát thải 1.100 tấn, gấp khoảng 17 lần ở Trung Quốc và 48 lần ở Ấn Độ.
Riêng năm 2004, lượng phát thải khí CO2 của Hoa Kỳ là 6 tỷ tấn, bằng khoảng 20% tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu. Trung Quốc là nước phát thải lớn thứ 2 với 5 tỷ tấn CO2, tiếp theo là Liên bang Nga 1,5 tỷ tấn, Ấn Độ 1,3 tỷ tấn, Nhật Bản 1,2 tỷ tấn, CHLB Đức 800 triệu tấn, Canada 600 triệu tấn, Vương quốc Anh 580 triệu tấn. Các nước đang phát triển phát thải tổng cộng 12 tỷ tấn CO2, chiếm 42% tổng lượng phát thải toàn cầu so với 7 tỷ tấn năm 1990 (29% tổng lượng phát thải toàn cầu), cho thấy tốc độ phát thải khí CO2 của các nước này tăng khá nhanh trong khoảng 15 năm qua. Một số nước phát triển dựa vào đó để yêu cầu các nước đang phát triển cũng phải cam kết theo Công ước Biến đổi khí hậu.
Năm 1990, Việt Nam phát thải 21,4 triệu tấn CO2. Năm 2004, phát thải 98,6 triệu tấn CO2, tăng gần 5 lần, bình quân đầu người 1,2 tấn/năm (trung bình của thế giới là 4,5 tấn/năm, Singapo 12,4 tấn, Malaysia 7,5 tấn, Thái Lan 4,2 tấn, Trung Quốc 3,8 tấn, Inđônêxia 1,7 tấn, Philippin 1,0 tấn, Myanma 0,2 tấn, Lào 0,2 tấn).
Như vậy, phát thải các khí CO2 của Việt Nam tăng khá nhanh trong 15 năm qua, song vẫn ở mức thấp so với trung bình toàn cầu và nhiều nước trong khu vực. Dự tính tổng lượng phát thải các khí nhà kính của Việt Nam sẽ đạt 233,3 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2020, tăng 93% so với năm 1998.
Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là trong khi các nước giàu chỉ chiếm 15% dân số thế giới, nhưng tổng lượng phát thải của họ chiếm 45% tổng lượng phát thải toàn cầu; các nước châu Phi và cận Sahara với 11% dân số thế giới chỉ phát thải 2%, và các nước kém phát triển với 1/3 dân số thế giới chỉ phát thải 7% tổng lượng phát thải toàn cầu. Đó là điều mà các nước đang phát triển nêu ra về bình đẳng và nhân quyền tại các cuộc thương lượng về Công ước khí hậu và Nghị định thư Kyoto.
Chính vì thế, một nguyên tắc cơ bản, đầu tiên được ghi trong Công ước Khung của Liên hợp quốc về BĐKH là: “Các bên phải bảo vệ hệ thống khí hậu vì lợi ích của các thế hệ hôm nay và mai sau của nhân loại, trên cơ sở công bằng, phù hợp với trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và bên các nước phát triển phải đi đầu trong việc đấu tranh chống BĐKH và những ảnh hưởng có hại của chúng”.
Khí nhà kính và hiệu ứng nhà kính
Trong thành phần của khí quyển trái đất, khí nitơ chiếm 78% khối lượng, khí oxy chiếm 21%, còn lại khoảng 1% các khí khác như argon, đioxit cacbon, mêtan, ôxit nitơ, nêon, hêli, hyđrô, ôzôn,… và hơi nước. Tuy chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, các khí vết này, đặc biệt là khí CO2, CH4, NOx, và CFCs - một loại khí mới chỉ có trong khí quyển từ khi công nghệ làm lạnh phát triển, là những khí có vai trò rất quan trọng đối với sự sống trên trái đất. Trước hết, đó là vì các chất khí nói trên hấp thụ bức xạ hồng ngoại do mặt đất phát ra, sau đó, một phần lượng bức xạ này lại được các chất khí đó phát xạ trở lại mặt đất, qua đó hạn chế lượng bức xạ hồng ngoại của mặt đất thoát ra ngoài khoảng không vũ trụ và giữ cho mặt đất khỏi bị lạnh đi quá nhiều, nhất là về ban đêm khi không có bức xạ mặt trời chiếu tới mặt đất.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
bancua2lua
Thành viên Mới
Thành viên Mới


Tổng số bài gửi : 31
Registration date : 21/04/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Biến đổi khí hậu   Wed Apr 21, 2010 12:57 pm

Tiep


Các chất khí nói trên, trừ CFCs, đã tồn tại từ lâu trong khí quyển và được gọi là các khí nhà kính tự nhiên. Nếu không có các chất khí nhà kính tự nhiên, trái đất của chúng ta sẽ lạnh hơn hiện nay khoảng 33oC, tức là nhiệt độ trung bình trái đất sẽ khoảng 18oC. Hiệu ứng giữ cho bề mặt trái đất ấm hơn so với trường hợp không có các khí nhà kính được gọi là “Hiệu ứng nhà kính”. Ngoài ra, khí ôzôn tập trung thành một lớp mỏng trên tầng bình lưu của khí quyển có tác dụng hấp thụ các bức xạ tử ngoại từ mặt trời chiếu tới trái đất và thông qua đó bảo vệ sự sống trên trái đất.
Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp về trước, ít nhất khoảng 10.000 năm, nồng độ các chất khí nhà kính rất ít thay đổi, trong đó khí CO2 chưa bao giờ vượt quá 300ppm. Chỉ riêng lượng phát thải khí CO2 do sử dụng nhiên liệu hóa thạch đã tăng hàng năm trung bình tỷ lệ từ 6,4 tỷ tấn cacbon (xấp xỉ 23,5 tỷ tấn CO2) trong những năm 1990 lên đến 7,2 tỷ tấn cacbon (xấp xỉ 45,9 tỷ tấn CO2) mỗi năm trong thời kỳ từ 2000 – 2005.
Các nhân tố khác, trong đó có các sol khí (bụi, cacbon hữu cơ, sulphat, nitrat…) gây ra hiệu ứng âm (lạnh đi) với lượng bức xạ cưỡng bức tổng cộng trực tiếp là 0,5W/m2 và gián tiếp phản xạ của mây là 0,7W/m2; thay đổi sử dụng đất làm thay đổi suất phản xạ bề mặt, tạo ra lượng bức xạ cưỡng bức tổng cộng được xác định bằng 0,02W/m2; trái lại, sự gia tăng khí ôzôn trong tầng đối lưu do sản xuất và phát thải các hóa chất và sự thay đổi trong hoạt động của mặt trời trong thời kỳ từ năm 1750 đến nay được xác định là tạo ra hiệu ứng dương đối với tổng lượng bức xạ cưỡng bức lần lượt là 0,35 và 0,12W/m2. Như vậy, tác động tổng cộng của các nhân tố khác, ngoài khí nhà kính, đã tạo ra lượng bức xạ cưỡng bức âm. Vì thế, trên thực tế, sự tăng lên của nhiệt độ trung bình toàn cầu quan trắc được trong thời gian qua đã bị triệt tiêu một phần, nói cách khác, sự tăng lên của riêng hàm lượng khí nhà kính nhân tạo trong khí quyển làm trái đất nóng lên nhiều hơn so với những gì đã quan trắc được, và điều đó càng khẳng định sự biến đổi khí hậu hiện nay là do các hoạt động của con người chứ không phải do quá trình tự nhiên.
Nguyên nhân của nước biển dâng
Nước biển dâng là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm triều, nước dâng do bão… Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác. Mực nước biển được đo thông qua hệ thống thiết bị đo triều ký đặt tại các trạm hải văn hoặc các máy đo độ cao vệ tinh.
Theo Báo cáo đánh giá lần thứ tư của Ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC), sự nóng lên của hệ thống khí hậu đã rõ ràng được minh chứng thông qua số liệu quan trắc ghi nhận sự tăng lên của nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước biển trung bình toàn cầu, sự tan chảy nhanh của lớp tuyết phủ và băng, làm tăng mực nước biển trung bình toàn cầu.
Mực nước biển tăng phù hợp với xu thế nóng lên do sự đóng góp của các thành phần chứa nước trên toàn cầu được ước tính gồm: giãn nở nhiệt của các đại dương, các sông băng trên núi, băng Greenland, băng Nam cực và các nguồn chứa nước trên đất liền.
Các kết quả nghiên cứu gần đây đưa ra dự báo mực nước biển sẽ cao hơn từ 0,5 – 1,4m vào cuối thế kỷ XXI.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
bancua2lua
Thành viên Mới
Thành viên Mới


Tổng số bài gửi : 31
Registration date : 21/04/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Biến đổi khí hậu   Wed Apr 21, 2010 1:00 pm

KHAI NIEN BIEN DOI KHI HAU
Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo".

Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác.

Các biểu hiện của sự biến đổi khí hậu trái đất gồm:

· Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung.

· Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất.

· Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển.

· Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sựsống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người.

· Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác.

· Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển.
Các quốc gia trên thế giới đã họp tại New York ngày 9/5/1992 và đã thông qua Công ước Khung về Biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc. Công ước này đặt ra mục tiêu ổn định các nồng độ khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp của con người đối với hệ thống khí hậu. Mức phải đạt nằm trong một khung thời gian đủ để các hệ sinh thái thích nghi một cách tự nhiên với sự thay đổi khí hậu, bảo đảm việc sản xuất lương thực không bị đe doạ và tạo khả năng cho sự phát triển kinh tế tiến triển một cách bền vững.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
bancua2lua
Thành viên Mới
Thành viên Mới


Tổng số bài gửi : 31
Registration date : 21/04/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Biến đổi khí hậu   Wed Apr 21, 2010 1:02 pm

Khí hậu là hình thái dài hạn của thời tiết. Vì sự nóng lên toàn cầu, các trạng thái đó cũng biến đổi. Những biến đổi đó ảnh hưởng đến con người và thiên nhiên qua nhiều cách. Một số biến đổi diễn ra chậm, một số khác diễn ra khốc liệt: các hiện tượng thời tiết cực đoan đã xảy ra nhiều hơn. Chúng sẽ có thể xảy ra nhiều hơn nữa trong tương lai
Tất cả các phần của khí hậu liên kết với nhau: Nhiệt độ ngày và đêm, mùa hè và mùa đông, tuyết và mưa, hơi ẩm, nước bốc hơi, khô hạn, mây, gió, dòng hải lưu, hình thành và tan chảy của băng... Biến đổi khí hậu làm thay đổi điều kiện sống. Một số loài có lợi khi nhiệt độ tăng lên, trong khi các loài khác khó thích ứng hơn.
Khí hậu Trái đất là một hệ thống năng lượng lấy nguồn từ mặt trời. Sự nóng lên toàn cầu có nghĩa là trong hệ thống có nhiều năng lượng hơn. Do đó, nhiều hiện tượng thời tiết trở nên mạnh hơn. Các hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra thường xuyên hơn. Ví dụ như:
● Những đợt nóng với nhiệt độ cao xảy ra thường xuyên hơn.
● Hạn hán xảy ra thường xuyên hơn hoặc quy mô rộng hơn hay kéo dài hơn.
● Mưa lớn và tuyết dày trở nên lớn hơn và hay xảy ra hơn.
● Bão nhiệt đới trở nên mạnh hơn.
Không thể chỉ ra một hiện tượng thời tiết cực đoan đơn lẻ và nói "Nó xảy ra do sự nóng lên toàn cầu. Nếu không có hiện tượng nóng lên toàn cầu, nó đã không xảy ra".
Cũng không thể dự đoán trước những hiện tượng thời tiết cực đoan trong tương lai (bao nhiêu, lúc nào và ở đâu). Nhưng hình thái thì rõ ràng, khoa học khí hậu cho biết: Nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan trở nên thường xuyên hơn so với quá khứ. Chúng dự tính sẽ xảy ra nhiều hơn nữa trong tương lai
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
bancua2lua
Thành viên Mới
Thành viên Mới


Tổng số bài gửi : 31
Registration date : 21/04/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Biến đổi khí hậu   Wed Apr 21, 2010 1:04 pm

* Dấu hiệu bất thường



Từ tháng 3 năm nay, mùa khô trong vùng ĐBSCL tiếp tục hiện tượng khác thường: nắng nóng, nhiệt độ tăng cao ban ngày. Tuy nhiên, bất chợt xảy ra một vài cơn mưa trái mùa cục bộ ở một vài tỉnh ven biển. Trong lúc này, mùa kiệt nước nên mực nước trên sông Tiền, sông Hậu xuống thấp, nước mặn xâm nhập sớm vào các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu. Theo số liệu ghi nhận từ cơ quan chuyên môn, lưu lượng nước trên sông Tiền, sông Hậu vào mùa khô kiệt cách đây 30 năm là 2.500 m3/giây, nhưng tới năm 2006 chỉ còn 1.600 m3/giây, giảm 36%. Do nước ngọt từ thượng nguồn về ít nên mặn đẩy ngọt vào sâu trong đất liền. Vào tháng 4-2004, nước mặn từng dấn sâu cách 15 km là tới trung tâm TP.Cần Thơ, độ mặn đo được 1%0. Từ các dữ liệu thu thập qua nhiều năm, Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường TP.Cần Thơ cho rằng, đến năm 2050, vào mùa khô nước mặn 1%0 có thể xâm nhập vào Cần Thơ thường xuyên hơn với độ sâu 0,5 m. Lúc đó, vùng sinh thái nước ngọt Cần Thơ “gạo trắng nước trong” sẽ chịu nhiều tác động.



Vào mùa mưa, trong những năm qua thường đến sớm, kéo dài và kết thúc muộn, chứ không còn theo quy luật của mấy chục năm trước. Trong năm 2007, 2008, mùa mưa kéo dài mãi đến tháng 12 và tháng 1 năm sau, muộn hơn mấy năm trước hơn 1 tháng. Mùa lũ cũng có độ trễ, đỉnh lũ thường xuất hiện muộn. Hàng năm, đỉnh lũ xuất hiện vào cuối tháng 9 đầu tháng 10, thì từ năm 2006 tới giữa tháng 10 mới xuất hiện đỉnh lũ. Tình trạng mưa kéo dài, lũ về đạt đỉnh muộn và trùng vào lúc triều cường hàng tháng khiến cho vùng hạ lưu nhiều nơi bị ngập.



Ban Chỉ huy Phòng chống lụt bão tìm kiếm cứu nạn TP.Cần Thơ thống kê từ năm 2004-2007, đỉnh triều cường trên sông Hậu tại TP.Cần Thơ mỗi năm cao thêm 4 cm. Riêng năm 2007, triều cường đạt đỉnh 2,03 m, trong lúc TP.Cần Thơ chỉ cao hơn mực nước biển 0,6-0,8 m, gây nên tình trạng ngập lụt diễn ra thường xuyên ở một số tuyến đường phố trung tâm TP.Cần Thơ. Theo cơ quan này, có thể trong vòng 20 năm tới, đến năm 2030, đỉnh triều cường sông Hậu tại Cần Thơ có thể cao thêm 0,8-1 m và cả thành phố sẽ ngập chìm trong nước.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
bancua2lua
Thành viên Mới
Thành viên Mới


Tổng số bài gửi : 31
Registration date : 21/04/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Biến đổi khí hậu   Wed Apr 21, 2010 1:05 pm

TS Lê Anh Tuấn, Chánh Văn phòng Viện DRAGON MEKONG cho biết, tổng hợp từ các cơ sở dữ liệu trao đổi giữa các viện nghiên cứu biến đổi khí hậu trên thế giới cho thấy, sự nóng lên toàn cầu là nguyên nhân chính gây nên sự biến đổi khí hậu. Đối chiếu, so sánh năm 1979, hơn 20% mảng băng ở Bắc cực đã bị tan mất. Một nghiên cứu khác, ở dãy Hymalaya - nơi được xem là “cội nguồn” của các thác nước ở châu Á, thể tích và diện tích băng đá cũng giảm đi đáng kể, từ đó ảnh hưởng tới chế độ thủy văn của các con sông châu Á. Bên cạnh đó, nhiệt độ trái đất gia tăng xấp xỉ 0,50C trong hai thập kỷ gần đây do phát triển công nghiệp thải ra nhiều các-bon, mê-tan làm cho trái đất khô hạn ở nhiều vùng. Phạm vi các sa mạc, hoang mạc mở rộng.



Dựa vào các mô hình toán học và các kịch bản của Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên Hiệp Quốc (IPCC), các nhà khoa học phỏng đoán, vùng ĐBSCL và các đồng bằng khác đối mặt khá nhiều vấn đề. Cụ thể hàng năm, từ tháng 1 đến tháng 4 xảy ra hiện tượng khô nóng, thiếu nước, gió chướng, nhiễm mặn, hạn - phèn đầu vụ, sấm sét; từ tháng 5 đến tháng 6 hạn bà chằn; tháng 7, tháng 8 lũ sớm; tháng 9, tháng 10 lũ, sạt lở, mưa, triều cường; tháng 11, tháng 12 bão, lạnh.



Trước tiên là vụ lúa Hè thu ở nước ta, từ tháng 4 đến tháng 8 sẽ chịu nhiều ảnh hưởng: tháng 4 bắt đầu cày ải cần nước rất nhiều từ 10-20 cm, nhưng lại gặp khô hạn đầu vụ, rủi ro trong tương lai khi hạn gia tăng, mưa giảm, chi phí bơm tưới sẽ tăng. Tháng 5 sạ cấy cần nước trung bình 5-10 cm. Tháng 6 lúa nở bụi, chồi nách cần nước gia tăng dần từ 2-10 cm, nhưng lúc này thường gặp rủi ro, lượng mưa giảm, hạn bà chằn. Tháng 7 lúa trổ bông cần nước nhiều 10 cm. Tới tháng 8 vào giai đoạn cuối vụ lúa xanh, chín, nước giảm dần 5-10 cm, trong khi mưa lại gia tăng ảnh hưởng tới năng suất.



Trong tương lai, tổng lượng mưa Hè thu từ 15-5 đến 15-6 sẽ giảm, hạn đầu vụ sẽ gay gắt hơn, lượng mưa giảm dưới từ 5% đến trên 35% và phân bố bất lợi cho sản xuất. Vùng ven biển mưa giảm, khả năng mặn xâm nhập gia tăng. Vùng có nhiệt độ trên 370C trở lên mở rộng. Số ngày nóng trên 400C vào mùa hè nhiều hơn. Diện tích ngập lũ sẽ mở rộng vào năm 2030, nhưng số ngày ngập lũ ở vùng đầu nguồn sẽ giảm và tăng ở khu vực hạ lưu. Tác động này sẽ gây ảnh hưởng tới vùng nuôi tôm ở Bạc Liêu, Cà Mau.



Viện DRAGON MEKONG cho biết, sẽ sớm chuyển tải những thông tin liên quan về biến đổi khí hậu cùng với những đề xuất giảm nhẹ thiên tai để chính quyền và người dân các tỉnh ĐBSCL am hiểu, có những hành động cộng đồng thích nghi tích cực.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Biến đổi khí hậu   Today at 8:16 am

Về Đầu Trang Go down
 
Biến đổi khí hậu
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: .o0o.Học Tập.o0o. :: Câu chuyện giáo dục-
Chuyển đến